thảo dược trị gan nhiễm mỡ thảo dược doctor ninh thao duoc doctor le thảo dược thoái cốt hoàn
Được tạo bởi Blogger.

RƯỢU BIA LỢI VÀ HẠI

Những bằng chứng cổ xưa nhất về viêc sản xuất bia có thể thấy từ thời của người Sumer, chủ nhân của nền văn minh rực rỡ giữa hai dòng sông Euphrat và Tigris tồn tại vào khoảng 5000 năm trước công nguyên. Từ hàng ngàn năm nay, rượu và các thức uống chứa cồn đã trở thành một thành phần văn hóa quan trọng trong cuộc sống của loài người. Trải qua những giai đoạn lịch sử khác nhau, rượu cũng có những chức năng khác nhau. Rượu từng là thức ăn, thức uống tiêu khiển, chất gây cảm hứng, rượu được dùng trong mục đích tôn giáo và dĩ nhiên là một loại thuốc chữa bệnh. Rượu cũng được dùng như một chất bôi trơn cho các mối quan hệ giữa người với người và thường được nâng thành nghi lễ, đôi khi rất trang trọng. Tuy nhiên việc lạm dụng rượu cũng gây nên những vấn đề trầm trọng, không chỉ cho sức khỏe mà còn ảnh hưởng đến quan hệ xã hội cũng như nền kinh tế quốc dân.

Uống rượu vừa phải có tác dụng tốt trên hệ tim mạch vì nó có khả năng làm giảm 20% nguy cơ bệnh mạch vành cũng như nguy cơ nhồi máu cơ tim. Lượng rượu vừa phải hàng ngày không nên vượt quá 20 gram rượu nguyên chất (tương đương với 0,5 lít bia hoặc 0,2 lít rượu vang) đối với nam giới và 10 gram rượu nguyên chất đối với phụ nữ. Ngược lại, việc lạm dụng nhiều rượu có khả năng gây nên tổn thương ở tất cả các cơ quan trong cơ thể, đặc biệt là gan, thực quản, dạ dày, ruột, tuyến tụy và não bộ. Đồng thời nó cũng làm tăng nguy cơ ung thư khoang miệng, hầu họng, thực quản, gan, ruột và ung thư vú. Hiện nay vẫn chưa thể xác định chính xác việc sử dụng bao nhiêu rượu hàng ngày sẽ đạt giá trị ngưỡng gây nên ung thư.

-Từ 70 đến 85% lượng rượu đưa vào cơ thể sẽ được hấp thu ở tá tràng và phần trên của ruột non. Chỉ có khoảng 20% được hấp thu bởi niêm mạc dạ dày. Rượu được hấp thu từ ruột sẽ theo tĩnh mạch cửa đến gan. Gan là cơ quan chuyển hóa rượu quan trọng nhất. Tại đây, trên 90% lượng rượu hấp thu sẽ được chuyển hóa. Phần còn lại sẽ được thải ra ngoài qua phổi và thận. Ở người uống rượu vừa phải thì phần lớn rượu được chuyển hóa tại gan theo hai giai đoạn.

Trong giai đoạn 1, chuyển hóa rượu thành Acetalhehyde được thực hiện bởi ba hệ thống men: (1) Alcoholdehydrogenase (coenzyme NAD) nằm trong bào tương; (2) hệ thống ôxy hóa rượu ở microsome (Microsomal Ethanol Oxidating System – MEOS) và (3) các men Catalase. Tuy nhiên ở người uống rượu nhiều thì hệ thống men MEOS có tầm quan trọng hơn ADH.

Trong giai đoạn 2, acetaldehyde đuợc hình thành, là một chất độc, sẽ nhanh chóng được ôxy hóa để chuyển thành Acetate. Năng lực chuyển hóa của giai đoạn này chỉ có giới hạn và có sự tham gia của ADH, một enzyme phụ thuộc NAD. Ở những người lạm dụng rượu, lượng Acetaldehyde được sản sinh với một mức quá lớn sẽ không được chuyển hóa hết và gắn vào màng tế bào gây tổn thương tế bào thông qua các cơ chế gây độc, viêm và miễn dịch với hậu quả là quá trình tạo xơ.

Như vậy ở những người uống một lượng lớn rượu thì đầu tiên khi nồng độ cồn trong máu cao, hệ thống MEOS sẽ hoạt động. Hệ thống Enzyme này được tìm thấy ở màng của mạng lưới nội bào tương nhẵn. Enzyme quan trọng nhất của hệ thống này là Cytochrom P450 bởi men này không chỉ có vai trò trung tâm trong chuyển hóa rượu mà còn tham gia vào việc giáng hóa rất nhiều chất của chính cơ thể cũng như chất lạ từ bên ngoài vào, ví dụ rất nhiều loại thuốc khác nhau thường được sử dụng trong lâm sàng.

Cytochrom P450 2E1 (CYP 2E1), một dưới type của Cytochrom P450, có vai trò quan trọng nhất trong chuyển hóa Alcohol thành Acetaldehyde. Vào năm 1968, lần đầu tiên Charles Lieber đã chứng minh rằng việc sử dụng thường xuyên thức uống có cồn sẽ gây cảm ứng làm tăng hoạt độ hệ thống men này lên 10 lần. Một đặc điểm cực kỳ quan trọng là phản ứng giáng hóa này sẽ giải phóng ra các gốc ôxy tự do hoạt động (reactive oxygen species-ROS).

Men Catalase trong Peroxisome chỉ tham gia ôxy hóa một lượng rất nhỏ Ethanol mà thôi.

Việc thường xuyên sử dụng một lượng lớn Alcohol sẽ làm tăng hoạt động của hai enzyme khác nữa tham gia vào quá trình chuyển Acetaldehyde thành Acetate. Đó là các men Xanthinoxidase và Aldehydoxidase. Thông qua hoạt động của hai men này, thêm một lượng lớn các gốc tự do gây độc được giải phóng, góp phần tạo nên những tổn thương gan do rượu.

Tổn thương gan do rượu là một quá trình bệnh lý rất phức tạp và do nhiều yếu tố khác nhau tham gia. Trong những năm vừa qua nhờ vào các nghiên cứu trên thực nghiệm mà quá trình này ngày càng được mô tả một cách chi tiết. Có nhiều cơ chế khác nhau thông qua (1)sự thay đổi của hệ thống ôxy hóa khử tại gan do quá trình chuyển hóa rượu gây nên; (2)tổn thương gan do Acetaldehyde hoặc các tự kháng thể; (3)quá trình giải phóng các chất trung gian phản ứng viêm (Cytokine); (4)kích tác ôxy hóa, (5)thiếu ôxy nhu mô gan cũng như (5)quá trình hoạt hóa các tế bào Kuffer tại gan.

Ở người thường xuyên sử dụng nhiều rượu, quá trình chuyển hóa rượu sẽ gây nên những biến đổi sâu sắc của rất nhiều phản ứng hóa sinh trong cơ thể. Quá trình giáng hóa rượu thành Acetaldehyde thông qua xúc tác của ADH tạo nên những biến đổi trầm trọng trong hệ thống ôxy hóa khử của tế bào gan. Cơ chế là do sự gia tăng của NADH và thiếu hụt NAD+.

Hậu quả quan trọng nhất là ức chế quá trình chuyển hóa acid béo qua con đường β-Oxidation. Đồng thời với nó là quá trình tân tổng hợp các acid béo do các enzyme synthetase acid béo. Các enzyme này được hoạt hóa thông qua sự hiện diện của rượu. Các acid béo mới này sẽ tạo liên kết ester với Glycerine để tạo thành Triglyceride và tích lũy lại trong tế bào gan. Hậu quả của quá trình này là chứng gan nhiễm mỡ. Ức chế quá trình ôxy hóa Pyruvate sẽ làm giảm quá trình tân tạo đường, cơ sở sinh lý bệnh của tình trạng hạ đường máu. Ngoài ra, cả chu trình Citrate cũng bị ảnh hưởng do thay đổi hệ thống ôxy hóa khử này.

Acetaldehyde là sản phẩm chuyển hóa của Ethanol có tính độc đối với tế bào vì nó có khả năng gắn chặt với các protein cũng như với ADN. Chính vì khả năng này mà nó làm tổn thương chức năng của tế bào gan. Thông qua quá trình gắn với các cấu trúc của hệ thống nâng đỡ tế bào (Cytoskeleton), Acetyldehyde sẽ hạn chế sự bài xuất của các protein tiết. Tương tự, màng của ty thể cũng bị biến đổi dẫn đến hậu quả là chết tế bào gan. Ngoài ra các thành phần của tế bào gan cũng biến đổi nhiều đến mức chúng được hệ thống miễn dịch nhận dạng như là những kháng nguyên lạ và do đó tạo nên phản ứng tự miễn dịch. Phản ứng này gây tổn thương cho tế bào gan thông qua kháng thể. Chính vì vậy, ở những người nghiện rượu, thường có thể thấy tự kháng thể.

Sự giải phóng các chất trung gian của phản ứng viêm như TNFα, Interleukin-1, Interleukin-6 và Interleukin-8 cũng góp phần vào tổn thương gan. Sử dụng nhiều rượu làm giảm chức năng rào cản của ruột do làm tổn thương niêm mạc ruột và tạo điều kiện cho sự phát triển quá mức của vi khuẩn (bacterial overgrowth) trong lòng ruột. Do đó thành phần nội độc tố của vi khuẩn gram âm trong lòng ruột có thể theo hệ tĩnh mạch cửa đến gan. Nội độc tố này sẽ hoạt hóa các tế bào Kuffer, là tế bào đại thực bào cư trú tại gan. Các tế bào này lại giải phóng ra một loạt các cytokine gây viêm như TNFα, IL-1, IL-6 và IL-8. Các Cytokine này gây nên một phản ứng viêm tại gan và phát tín hiệu hóa ứng động huy động thêm nhiều các tế bào đa nhân trung tính cũng như tế bào lympho T từ dòng máu đi vào gan. Các Cytokine giải phóng từ tế bào Kuffer gây cảm ứng tế bào gan. Tế bào gan sẽ sản xuất các Cytokine viêm nữa. Các tế bào viêm này sẽ giải phóng các gốc ôxy tự do hoạt động mạnh có khả năng tấn công và gây tổn thương tất cả các thành phần của tế bào gan như màng tế bào, ADN, hệ thống enzyme và các protein cấu trúc. Đặc biệt, màng tế bào sẽ tổn thương do quá trình peroxide hóa lipid.

Các gốc ôxy tự do không chỉ được phát sinh từ quá trình giáng hóa Ethanol thông qua Cytochrom P450 và giáng hóa Acetaldehyde thông qua Xanthinoxidase và Aldehydoxidase. Các tế bào hạt trung tính xâm nhập vào gan cũng như tế bào cũng giải phóng các gốc này. Các kích tác ôxy hóa này lại càng trở nên mạnh mẽ hơn trong bối cảnh các cơ chế phòng vệ sinh lý đã bị phá vỡ. Alcohol gây nên giảm thiểu Glutathion, một chất thu nhận gốc tự do quan trọng nhất trong cơ thể. Quá trình giáng hóa rượu thường đi kèm với thiếu ôxy gan và gây nên các tổn thương thiếu ôxy tế bào. Các tế bào Kuffer ở gan, chiếm 5 đến 15% tổng số tế bào gan, đóng một vai trò trung tâm trong quá trình tạo mô liên kết mới trong tiến triển của xơ gan. Acetaldehyde, chất chuyển hóa chính của rượu, cùng với các Cytokine và các gốc tự do kích thích quá trình hoạt hóa các tế bào ở trạng thái không hoạt động làm chúng có những thay đổi sâu sắc về chức năng. Những tế bào này sẽ biệt hóa thành các nguyên bào sợ cơ (Myofibroblaste), có khả năng sản xuất một lượng lớn Collagen, Proteoglycane và các Glycoproteine như Fibronectin và Laminin. Các protein này lắng đọng bên ngoài tế bào. Hậu quả của quá trình này là tăng quá trình tạo xơ trong tổ chức gan, dần dần sẽ đưa đến xơ gan thực sự.


0 nhận xét:

Đăng nhận xét