thảo dược trị gan nhiễm mỡ thảo dược doctor ninh thao duoc doctor le thảo dược thoái cốt hoàn
Được tạo bởi Blogger.

VIÊM GAN DO RƯỢU LÀ TIỀN ĐỀ CỦA XƠ GAN

Viêm gan do rượu được định nghĩa là những tổn thương mô bệnh học của tổ chức gan có liên quan đến việc lạm dụng rượu. Bệnh cảnh này được F.B. Mallory mô tả chính xác và chi tiết từ năm 1911 và cho đến nay vẫn không có gì thay đổi. Một hội nghị chuyên gia năm 1981 đã đưa ra tiêu chuẩn chẩn đoán gồm: quá trình thái hóa phì đại của tế bào gan, hiện diện thể Mallory, thâm nhiễm viêm, chủ yếu là do các tế bào hạt trung tính, tạo tổ chức xơ và gan nhiễm mỡ

Thái hóa phì đại của tế bào gan được định nghĩa là sự tăng kích thước tế bào gan do tích tụ các protein trong tế bào gan. Do tổn thương của hệ thống nâng đỡ tế bào do Acetaldehyde, quá trình bài xuất protein khỏi tế bào gan bị cản trở. Bên trong những tế bào gan này thường thấy các thể Mallory do sự ngưng tập các protein nội bào.

Các nghiên cứu mới cho thấy Alcohol gây nên những tổn thương của các sợi trung gian của hệ thống cytoskeleton. Các sợi trung gian này là một trong ba cấu phần cơ bản của cytoskeleton, có chức năng duy trì sự toàn vẹn cấu trúc, hình dáng tế bào cũng như tính di động của tế bào và các bào quan.

Về mặt mô học, các biến đổi do các kháng thể kháng Cytokeratin hoặc Ubiquitin là những biểu hiện rõ ràng nhất. Thể Mallory không đặc hiệu cho tổn thương của gan do rượu vì nó còn có thể tìm thấy ở viêm gan nhiễm mỡ không do rượu (Non-Alcoholic SteatoHepatitis-NASH), trong bệnh lý tích lũy đồng Morbus Wilson, trong xơ gan ứ mật tiên phát (Primary Biliary Cirrhosis-PBC), tăng sản dạng nút cục bộ (Focal Nodular Hyperplasia-FNH) hoặc trong carcinoma gan.

Các tế bào viêm, nhất là tế bào đa nhân trung tính, hiện diện thường xuyên quanh tế bào gan thoái hóa phì đại và tạo thể Mallory. Một dấu hiệu bắt buộc của viêm gan do rượu là sự hiện diện của quá trình xơ hóa tức là tăng ngưng tập collagen ngoại bào. Ngưng tập collagen này xuất hiện ở trung tâm tiểu thùy gan xung quanh tĩnh mạch gan và có thể từ đây lan rộng ra khắp toàn bộ gan.

Hình ảnh lâm sàng ở những bệnh nhân viêm gan do rượu rất thay đổi từ không có triệu chứng nào đến tổn thương gan nặng nề gây nguy hiểm đến tính mạng với tỉ lệ tử vong cao. Rất khó để có thể đưa ra con số chính xác về viêm gan do rượu do bệnh cảnh này đôi khi không gây triệu chứng gì trên lâm sàng. Tỷ lệ tử vong trung bình trong 30 ngày nhập viện là 15% ở các bệnh nhân này. Trong những trường hợp nặng thể tử vong đến 50% trường hợp nhập viện. Bên cạnh lượng rượu sử dụng thì giới tính (nguy cơ cao hơn ở nữ giới), bệnh lý có sẵn như đái tháo đường hay béo phì cũng như các yếu tố di truyền cũng gióp phần vào mức độ nặng của viêm gan do rượu.

Về mặt xét nghiệm có thể phát hiện được tình trạng viêm nhiễm của gan (tăng Transaminase). Gợi ý nguyên nhân tổn thương do rượu là tăng GOT cao hơn so với GPT (Chỉ số De Ritis: GOT/GPT>2). Men -GT và Bilirubin huyết thanh thường tăng và có thể tăng trên ngưỡng bệnh lý. Trong thể nặng, nguy cơ có thể chuyển thành suy gan, thì bạch cầu thường tăng và các chỉ số về chức năng tổng hợp của gan (thời gian Quick, các yếu tố đông máu) sẽ giảm nhiều đến nỗi có thể gây nên xuất huyết.

Tăng bilirubin huyết thanh, suy giảm chức năng thận và giảm chức năng đông máu là những chỉ điểm của nguy cơ tử vong cao trong bệnh viện. Tuy nhiên, nếu Bilirubin thấp hơn 5 mg/dl thì tỷ lệ tử vong trong vòng 4 tuần tại bệnh viện bằng không và tỉ lệ tử vong trung bình trong 30 tháng là 22 %. Một số lượng đáng kể bệnh nhân viêm gan do rượu với bệnh cảnh lâm sàng nặng nề thường đã có biểu hiện của xơ gan. Như vậy có khoảng 2/3 bệnh nhân viêm gan do rượu nặng sẽ tiến triển thành xơ gan. Tuy nhiên cũng có đến ¼ tổng số bệnh nhân viêm gan do rượu ở mức độ nhẹ có thể tiến triển thành xơ gan trong những năm sau đó. Phương pháp điều trị quan trọng nhất đối với viêm gan do rượu là ngừng hoàn toàn rượu. Đối với nam giới đây là biện pháp rất hiệu quả. Tuy nhiên khác với nam giới, việc bỏ hẳn rượu ở phụ nữ chỉ có tác dụng rất ít trong việc ngăn chặn quá trình trình tiến triển từ viêm gan do rượu sang xơ gan.

Những bệnh nhân nghiện rượu thường có biểu hiện thiếu dinh dưỡng đi kèm. Đây cũng là một yếu tố bất lợi làm giảm khả năng sống sót ở bệnh nhân viêm gan do rượu với mức độ nặng. Tình trạng thiếu vitamine cần được điều trị bằng cung cấp Thiamin (Vitamine B1), Vitamine B6, Acid folic và thậm chí là Vitamine K. Đặc biệt những bệnh nhân đã có tiến triển sang xơ gan thường có biểu hiện thiếu protein. Do đó một chế độ giàu protein là ccần thiết cho các bệnh nhân này. Bệnh nhân xơ gan có nhu cầu protein rất cao, vào khoảng 1 đến 1,5 g/kg thể trọng.

Mặc dù có khoảng 15 nghiên cứu ngẫu nhiên với tổng cộng 900 bệnh nhân viêm gan do rượu, việc dùng cortcoide hay không vẫn là một vẫn đề còn gây nhiều bàn cãi. Các phân tích sau nghiên cứu cho thấy điều trị corticoide có thể là giảm 37% tử vong ngắn hạn ở những bệnh nhân có biểu hiện nặng. Tuy nhiên, nhiễm trùng là một chống chỉ định của liệu pháp corticoide vì liệu pháp này có thể tạo nên nhiễm trùng nặng nề gây tử vong thông qua ức chế miễn dịch.

Pentoxifilin ức chế phosphodiesterase, chất chống lại những rối loạn tưới máu các tĩnh mạch ngoại vi cũng như tĩnh mạch trung tâm tiểu thùy, có thể là một liệu pháp điều trị mới trong xử trí các trường họp viêm gan do rượu nặng. Rất tiếc cho đến nay vẫn chưa có một nghiên cứu quy mô lớn nào để có thể đưa ra kết luận thuyết phục. Trong một nghiên cứu đầu tiên, thuốc này làm giảm tỷ lệ tử vong so với nhóm điều trị giả dược từ 46% xuống còn 25%. Cơ chế tác động có thể là thông qua ức chế tổng hợp TNFα, một trong những chất trung gian gây viêm quan trọng nhất. Các nhiên cứu cũng chỉ ra rằng Pentoxifyllin cũng là một chất làm cải thiện tính chất lưu biến học máu (hemorheology) tại thận và có thể hạn chế nguy cơ suy thận trong viêm gan do rượu.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét